Từ một trang Bút tích Ngục Trung Nhật ký của Bác Hồ

Ngục trung nhật ký (NTNK) của Bác Hồ là một tác phẩm lớn. Tác phẩm ấy đã được nhiều học giả, nhà thơ dịch ra tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác. Riêng bản dịch tiếng Việt của Viện văn học từ năm 1960 đến nay đã được hoàn thiện qua mấy lần sửa chữa và bổ sung.

Tuy vậy, do nhu cầu học tập và nghiên cứu, chúng tôi xin mạnh dạn nêu lên một vài nhận xét nhỏ về việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong bản dịch tiếng Việt nói trên. Xin được bắt đầu bằng một nhận xét nhỏ về cách sử dụng dấu chấm câu từ một trang Bút tích (trang 24) của Nhật ký trong tù của Bác Hồ được in lại trong bản dịch năm 1960 của NXB Văn học.

Sau đây là bản sao chụp lại trang Bút tích:

Như ta đã biết, cách chấm câu – nhất là đối với các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiêng Hán – có tác dụng chỉ rõ quan hệ ngữ pháp, phân tách các ý. Riêng đối với thơ, các dấu chấm câu sẽ hướng dẫn cách đọc – cách thể hiện mặt âm thanh của câu thơ. Trang Bút tích này của Bác, có 3 bài: Thụy bất trước, Úc hữu, Thế nạn hữu mẫn tả báo cáo. Chữ Hán, viết theo lối cũ, theo hàng dọc, từ phải sang trái, không dùng dâu câu. Bác cũng viết theo lối cũ nhưng lại có dùng các dấu chấm câu theo kiểu của mình.  Trong các bản dịch tiếng Việt của Viện văn học(1960,1983,1990,1993),phần sao chép chữ Hán, viết theo lối mới,theo hàng ngang, từ trái sang phải và lược bỏ hết các dấu câu. Xin được lần lượt quan sát và đối chiếu từng bài (phần phiên âm và thơ dịch của bản 1993).

Từ một trang Bút tích Ngục Trung Nhật ký của Bác Hồ - Ảnh 1

Bài thứ nhất: Thụy bất trước

Phiên âm:          Thụy bất trước

Nhất canh… nhị canh… hựu tam canh,

Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành;

Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn,

Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ kim tinh.

Dịch thơ:        Không ngủ được

Một canh… hai canh… lại ba canh,

Trằn trọc băn khoăn, giấc chẳng thành;

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt,

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.

                                                    Nam Trân dịch

Bản dịch khác:

Canh một… canh hai… lại canh ba,

Trằn trọc, băn khoăn, khó ngủ mà;

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt.

Sao vàng năm cánh quyện hồn ta.

                                                     Xuân Thuỷ dịch

Nếu thật trung thành với cách viết trong nguyên tác Hán văn trên trang Bút tích, ta thấy nên dùng các dấu chấm câu như sau:

             Thụy bất trước

Nhất canh… nhị canh…..hựu tam canh.

Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành.

Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn.

Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ kim tinh.

Chúng tôi nghĩ: với những dấu chấm (.), Bác tách rõ và nhấn mạnh những ý trọn vẹn. Với 5 dấu chấm ….. sau nhị canh, Bác biểu hiện tế nhị trạng thái tinh thần sau nhắt canh với 3 dấu chấm …

Bài thứ hai: Ức hữu

Phiên âm:     Ức hữu

Tích quân tống ngã chí giang tân,

Vấn ngã qui kỳ, chì cốc tân;

Hiện tại tân điền dĩ lê hảo,

Tha hương ngã tác ngục trung nhân.

Dịch thơ:    Nhớ bạn

Ngày đi bạn tiễn đến bên sông,

Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng;

Nay gặt đã xong, cay đã khắp,

Quê người, tôi vẫn chôn lao lung.

                                                   Nam Trân dịch
Từ một trang Bút tích Ngục Trung Nhật ký của Bác Hồ - Ảnh 2

Nếu thật trung thành với cách viết trong nguyên tác Hán văn trên Bút tích, ta thấy nên dùng các dấu chấm câu như sau:

                    Ức hữu

Tích quân tống ngã chí giang tân,

Vấn ngã qui kỳ, chỉ cốc tân,

Hiện tại tân điền dĩ lê hảo,

Tha hương, ngã tác ngục trung nhân!

Chúng tôi nghĩ: cách dùng dấu (,) sau dòng 1; dấu (;) sau dòng 2; dấu (,) sau dòng 3 và dấu (.) sau dòng kết thúc là chưa thoả đáng so với nguyên tác. Nhất là đối với dòng thơ thứ tư, dòng thơ kết thúc đau xót, trìu nặng tâm tư:

Tha hương,/ ngã tác ngục trung nhân!

      2           /               5

(Quê người,/ tôi vẫn chốn lao lung!)

Bài thứ ba: Thế nan hữu mẫn tả báo cáo

Ở bài này, cách sử dụng các dấu chấm câu sát hợp với nguyên tác Hán văn. Qua bài viết này, chúng tôi xin đề nghị xem xét lại cách dùng dấu chấm câu ở các bản dịch Ngục trung nhật ký của Viện văn học. Chúng tôi cảm thấy không được thoả đáng khi hầu hết các bài tứ tuyệt đều được chấm câu theo kiểu:

Dòng 1  _____,

Dòng 2  _____ ;

Dòng 3  _____ ,

Dòng 4  _____ .

Cách chấm câu này còn được áp dụng cho cả một vài bài dài, như bài Vấn thoại – một bài thơ có liên tục mấy lời hỏi – đáp. Xin được ghi lại lời dịch thơ với cách chấm câu giống hệt phần phiên âm:

                Lời hỏi

Hai cục của xã hội,

Quan toà và phạm nhân;

Quan rằng: anh có tội,

Phạm thưa: tôi lương;

Quan rằng: anh nói dối,

Phạm thưa: thục trăm phần;

Quan toà tính vốn thiện,

Vờ làm bộ dữ dằn;

Muốn khép người vào tội,

Lại ra vẻ ân cần;

Ở giữa hai cực đó,

Công lý đứng làm thần.

                                         Huệ Chi – Nguyễn Sĩ Lâm dịch

Trần Dân Tiên cho đó là phòng giam. Điều này chứng tỏ rằng những “nhà tù” mà Hồ Chí Minh trải qua trong giai đoạn 1942-1943 tại Trung Quốc chỉ là những trại giam với phòng giam chật hẹp, khác hẳn nhà tù lớn ở Victoria Hong Kong. Đa phần những bài thơ của Già Lý nói về nhà tù, nhà lao, không phải phòng giam. Bài viết này chỉ đưa ra một vài điều chứng minh trong rất nhiều chi tiết mà học giả Lê Hữu Mục đã trình bày. Tuổi trẻ tại Việt Nam đến ngày nay vẫn còn phải học cái gọi là “tác phẩm” văn học của Hồ Chí Minh. Một vài sách báo của Mỹ khi viết về ông Hồ trong giai đoạn bị tù 1942 lại dẫn chứng bằng những bài thơ tù trên. Đó là những cách chấm phẩy trong một trang Bút tích Ngục Trung Nhật ký của Bác Hồ

Nguồn tổng hợp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *