Thế giới chìm ngập trong mạng lưới căn cứ quân sự của Mỹ

Ngày xưa, muốn đánh giá sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, người ta chỉ việc “cộng sổ” số thuộc địa trên thế giới lại.

Với 2.500.000 người Mỹ có mặt trên khắp hành tinh và khoảng 737 căn cứ quân rải rác khắp các đại lục, nước Mỹ thật sự muốn thiết lập một đế chế toàn cầu? Nhưng ngày nay kiểu thuộc địa của Mỹ lại là… căn cứ quân sự! Nhưng không dễ đánh giá tầm cỡ và giá trị chính xác của đế chế căn cứ quân sự Mỹ. Các dữ liệu về căn cứ quân sự Mỹ mà công chúng có thể tiếp cận thì không đúng với sự thật, mặc dù chúng có vẻ đáng tin cậy.

Theo các nguồn chính thức, con số tổng cộng các căn cứ quân sự Mỹ tại nhiều quốc gia trên thế giới năm 2005 là 737. Nhưng, với sự triển khai quân đội tại Iraq và sự theo đuổi chiến lược phát động chiến tranh đánh chặn trước của tổng thống Bush, con số các căn cứ quân sự Mỹ ở hải ngoại – phần lớn là căn cứ hải quân và không quân – sẽ tiếp tục tăng lên. Theo số liệu năm tài chính 2005, Lầu năm góc tính toán số căn cứ ở hải ngoại của họ đáng giá ít nhất 127 tỷ đôla – lớn hơn GDP của phần lớn các quốc gia trên thế giới – và khoảng 658,1 tỷ đôla cho các căn cứ cả trong lẫn ngoài nước Mỹ.

Thế giới chìm ngập trong mạng lưới căn cứ quân sự của Mỹ - Ảnh 1

Cũng theo số liệu năm 2005, các căn cứ quân sự hải ngoại sử dụng khoảng 196,975 nhân sự mặc quân phục cũng như một con số tương đương những người phụ thuộc và viên chức dân sự của Bộ quốc phòng Mỹ, đồng thời thuê dụng thêm 81.425 người nước ngoài. Tổng cộng toàn bộ nhân sự quân đội Mỹ năm 2005, gồm cả căn cứ trong nước, là 1.840.062 cộng thêm 473.306 viên chức dân sự Bộ quốc phòng và 203.328 người được thuê dụng. Mạng lưới căn cứ quân sự ở hải ngoại, theo Lầu năm góc, bao gồm 32.327 doanh trại, nhà chứa máy bay (hangar), bệnh viện và các bất động sản khác của riêng quân đội Mỹ, và hơn 16.527 toà nhà thuê.

Tổng diện tích khối tài sản này là vào khoảng 687.347 mẫu Anh ở hải ngoại va 29.819.492 mẫu Anh trên toàn thế giới – con số đã biến Lầu năm góc thành một trong những “chủ đất” lớn nhất thế giới. Số liệu báo cáo kiểm kê hàng năm từ 2002 đến 2005 về bất động sản thực tế của quân đội Mỹ trên toàn thế giới (Base structure Report), đã không tính đến các căn cứ ở Afghanistan, Iraq (106 đơn vị đồn trú vào tháng 5.2005), Israel, Kyrgyzstan, Qatar và Uzbekistan, mặc dù quân đội Mỹ đã thiết lập các căn cứ khổng lồ tại những khu vực vùng Vịnh và Trung Á từ sau ngày 11.9.

Như để bào chữa, mở đầu báo cáo nói rằng “các cơ sở được cung cấp bởi các quốc gia khác tại các khu đất nước ngoài” không tính đến, mặc dù điều này không đúng sự thật. Báo cáo bao gồm 20 địa điểm tại Thổ Nhĩ Kỳ, tất cả do chính quyền nước này sở hữu và sử dụng chung với Mỹ. Báo cáo 2005 cũng không nhắc đến bất cứ đơn vị đồn trú nào ở Kosovo, mặc dù ở đó có căn cứ khổng lồ Camp Bondsteel được xây dựng năm 1999 và được bảo quản bởi công ty KBR thuộc sự kiểm soát của tập đoàn Halliburton ở Houston. Lầu năm góc tiếp tục bỏ qua không tính đến phần lớn số tiền 5 tỷ đôla dành cho các cơ sở gián điệp và quân sự ở Anh được ngụy trang như là các căn cứ của Không lực Hoàng gia Anh.

Nếu tính toán đúng, tầm cỡ hiện nay của đế chế quân sự Mỹ trên toàn thế giới có lẽ là đến 1.000 căn cứ khác nhau ở hải ngoại, nhưng không ai – ngoại trừ Lầu năm góc – biết được con số chính xác. Trong một số trường hợp, các quốc gia nước ngoài đã cố gang giữ bí mật về căn cứ quân sự Mỹ, vì sợ sẽ gặp rắc rối nếu sự hợp tác của họ với đế quốc Mỹ bị tiết lộ. Chính phủ Mỹ hết sức cố gắng không tiết lộ bất cứ thông tin nào về mạng lưới các cơ sở của mình sử dụng để nghe trộm mọi sự giao tiếp toàn cầu, cũng như những triển khai hạt nhân mà như William Arkin – chuyên gia về đề tài này – viết là “đã vi phạm những nghĩa vụ thực thi hiệp ước của họ.

Thế giới chìm ngập trong mạng lưới căn cứ quân sự của Mỹ - Ảnh 2

Mỹ đã và đang nói dối nhiều đồng minh, ngay cả khối Nato, về những mưu đồ hạt nhân của mình. Hàng chục ngàn vũ khí hạt nhân, hàng trăm căn cứ, và hàng chục tàu chiến và tàu ngầm của Mỹ tồn tại ở nhiều địa điểm bí mật trên thế giới”. Ở Jordan, Mỹ đã triển khai trên 5.000 quân trong các căn cứ nằm dọc theo đường biên giới với Iraq và Syria (Jordan cũng đã hợp tác với Mỹ tra tấn tù nhân). Nhưng Jordan vẫn luôn nhấn mạnh rằng quốc gia họ không có sự hợp tác đặc biệt nào với Mỹ, không có căn cứ quân sự và không có sự hiện diện của quân đội Mỹ. Jordan là quốc gia có chủ quyền nhưng hiện nay là một vệ tinh của Mỹ và đã từng như thế ít nhất trong mười năm qua.

Tương tự, trước khi rút khỏi Saudi Arabia năm 2003, theo “thói quen” Mỹ đã phủ nhận duy trì một hạm đội khổng lồ và phi đội B 52 dễ quan sát thấy ở Jeddah bởi vì đó là những gì mà chính quyền Saudi yêu cầu. Chừng nào mà Mỹ còn tiếp tục giữ bí mật những hành động của họ, thì sẽ không ai biết được tầm cỡ thật sự của mạng lưới căn cứ quân sự quy mô đến mức nào. Năm 2005, những sự triển khai quân đội trong nước và nước ngoài gia tăng đáng kể – nguyên nhân là sự thay đổi chiến lược nhằm duy trì sự thống trị toàn cầu và sự đóng cửa bớt những căn cứ quá thừa trong nước.

Thực tế, những thay đổi đó dường như nhằm mục đích trừng phạt các quốc gia mà chính phủ Mỹ xác định là không ủng hộ các nỗ lực của họ tại Iraq và cũng như là phần thưởng cho các nước ủng hộ. Mạng lưới căn cứ quân sự trong nước Mỹ được xây dựng tập trung ở miền nam, tới các bang mà theo nhận định của báo Christian Science Monitor là “thắt chặt với truyền thống quân đội hơn các bang miền Bắc, Bắc Trung Tây nước Mỹ hay vịnh Thái Bình Dương”. Điều đó có nghĩa là quân đội Mỹ sẽ đến những nơi có giá trị nhất.

Một phần khác, sự tổ chức lại quân đội được xem xét lại quanh quyết định của Lầu năm góc về việc rút về nước trong năm 2007 hay 2008 hai sư đoàn từ Đức – sư đoàn thiết giáp số 1 và sư đoàn pháo binh số 1 – và một lữ đoàn (3.500 người) của sư đoàn pháo binh số 2 từ Hàn Quốc (năm 2005 chính thức rút về căn cứ Fort Carson ở Colorado). Tình hình lộn xộn ở Iraq càng tiếp diễn thì lực lượng Mỹ tại chỗ vẫn chưa thể rút về nước. Tuy nhiên, dù sớm hay muộn, trên 70.000 binh sĩ và 100.000 thành viên gia đình cũng sẽ trở về đất Mỹ.

Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, hiển nhiên bất cứ ai cũng nghĩ rằng sự tập trung quân đội Mỹ ở Đức, Ý, Nhật Bản và Hàn Quốc có lẽ không còn phải đối mặt với những mối đe dọa quân sự nào nữa. Năm 1991, chính quyền Bush đầu tiên đã bắt đầu giải nhiệm hay triển khai lại những lực lượng thừa, và thực tế chính quyền tổng thống Clinton đã đóng cửa một số căn cứ quân sự trên đất Đức, như là số căn cứ bảo vệ Fulda Gap một thời được coi là con đường thích hợp cho Liên Xô tấn công Tây Âu. Nhưng thực tế đã không có gì xảy ra.

Thế giới chìm ngập trong mạng lưới căn cứ quân sự của Mỹ - Ảnh 3

Vào cuối thập niên 1990, phe tân bảo thủ đã phát triển hệ thống lý thuyết quảng bá công khai chủ nghĩa đế quốc của “siêu cường đơn độc” – bao gồm hành động quân sự đơn phương tấn công phủ đầu và ngăn chặn, truyền bá nền dân chủ kiểu  Mỹ ra hải ngoại bằng mũi súng, dập tắt sự nổi lên của bất cứ quốc gia nào muốn “ngang hàng” với Mỹ hay khối quốc gia thách thức uy quyền tối cao của Mỹ, cũng như quan điểm về một nền “dân chủ” Trung Đông giúp Mỹ đạt được nguồn dầu hoả mà họ thèm khát! Kế hoạch lớn nhất của Mỹ là triển khai lại và tổ chức quân đội hiệu quả hơn. Trước mắt là chương trình biến đổi các lực lượng vũ trang thành một quân đội kỹ thuật cao, cơ động hơn và nhẹ hơn để có thể phục vụ cho chính sách đế quốc của Mỹ.

Sự “biến đổi phòng thủ” bắt đầu được bàn luận công khai lần đầu tiên trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2000. Rồi đến sự kiện 11.9 và hai cuộc chiến tranh ở Afgahnistan và Iraq xảy đến. Tháng 8.2002, khi toàn bộ chương trình mới bắt đầu đưa vào hành động, Mỹ tập trung tiến hành cuộc chiến tranh thần tốc nhằm mưu đồ “sáp nhập” Iraq vào đế chế của họ. Lúc đó, giới lãnh đạo dân sự ở Lầu năm góc đã quá tự tin đến mức nguy hiểm khi cho rằng sức mạnh quân sự vô địch của Mỹ đã được chứng minh qua chiến dịch năm 2001 chống lại Taliban và Al-Qaeda với sự huy động không quân mạnh mẽ dọn đường cho lính Mỹ tiến đến Kabul.

Cũng trong tháng 8.2002, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsteld tiết lộ “chiến lược phòng thủ 1-4-2-1” để thay thế kế hoạch quân sự có thể tiến hành đồng loạt 2 cuộc chiến – ở Trung Đông và Đông Bắc Á của Clinton. Hiện nay, các nhà hoạch định chiên tranh của Mỹ đang chuẩn bị phòng thủ nước Mỹ băng cách xây dựng và tập hợp sức mạnh để có thể “bẻ gãy sự tấn công” tại 4 “khu vực nguy cấp”: châu Âu, Đông Bắc Á (Hàn Quốc và Nhật Bản), Đông Á (đảo Đài Loan), và Trung Đông; và có thể giành được “chiến thắng quyết định” (theo nghĩa “thay đổi chế độ” và chiếm đóng!) trong một trong những cuộc xung đột quân sự này “vào đúng thời điểm và vị trí theo sự lựa chọn” của Mỹ!

Dường như chiến thắng dễ dàng trong 3 tuần quân đội Saddam Hussein vào mùa xuân 2003 chỉ củng cố lại những kế hoạch nói trên. Quân đội Mỹ hiện nay cho rằng họ hùng mạnh đến mức có thể hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào! Sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein ở Baghdad cũng đã khích lệ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld vận dụng sự “biến đổi” để trừng phạt những quốc gia mà họ cho rằng có thái độ thờ ơ với chủ nghĩa đơn phương của Mỹ – Đức, Saudi Arabia, Hàn Quốc, và Thổ Nhĩ Kỳ – và thưởng cho những quốc gia mà lãnh đạo hoan nghênh “chiến dịch tự do cho Iraq”, bao gồm các đồng minh cũ như Nhật Bản và Ý nhưng cũng cả các nước thuộc khối Cộng sản cũ như Ba Lan, Romania, và Bulgaria.

Kết quả là chiến lược căn cứ và sự hiện diện toàn cầu của Bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld nổi tiếng không chính thức là “Sự xét lại tình thế toàn cầu”! Tổng thống Bush đầu tiên đề cập đến điều đó trong một bài phát biểu vào ngày 21.11.2003, trong đó ông cam kết “sắp xếp lại tình thế toàn cầu” của nước Mỹ. Tổng thống Bush lặp lại câu nói và thêm chi tiết vào ngày 16.8.2004, trong bài diễn văn đọc tại hội nghị thường niên của tổ chức Cựu binh trong những cuộc chiến ở hải ngoại tổ chức ở Cincinnati. Bởi vì địa phương Cincinnati là một phần trong chiến dịch tranh cử tổng thống 2004 của Bush. Nhưng các bình luận của Bush đã không được coi trọng lắm vào thời điểm đó.

Thế giới chìm ngập trong mạng lưới căn cứ quân sự của Mỹ - Ảnh 4

Khi nói nước Mỹ sẽ giảm lực lượng đồn trú ở các nước châu Ấu và châu Á xuống còn 60.000 đến 70.000 người, Bush cam đoan là công việc này phải mất một thập niên mới hoàn thành – vượt xa nhiệm kỳ tổng thống – và đưa ra hàng loạt những hứa hẹn xem có vẻ như là để tranh thủ sự ủng hộ của cử tri hơn là lời tuyên bố về chiến lược. Bush nói: “Trong thập niên tới đây, chúng ta sẽ triển khai một lực lương cơ động và linh hoạt hơn, nghĩa là nhiều binh đoàn của chúng ta sẽ đồn trú và được triển khai trong nước. Chúng ta sẽ di chuyển một số binh đoàn và thiết bị quân sự đến những khu vực mới để có thể ứng phó nhanh trước những mối đe dọa bất ngờ…

Điều đó sẽ giảm bớt căng thẳng cho quân đội và gia đình binh sĩ chúng ta… Quân nhân sẽ có nhiều thời gian hơn trên mặt trận trong nước… Những người vợ quân nhân sẽ ít có sự thay đổi nghề nghiệp hơn, cuộc sống ổn định hơn, có nhiều thời gian hơn dành cho con cái cũng như có mặt với gia đình tại nhà”. Tuy nhiên, ngày 23.9.2003, Donald Rumsfeld tiết lộ các chi tiết cụ thể lần đầu tiên về kế hoạch lên Thượng nghị viện. Ông ta mô tả kế hoạch như là sự “tái cấu trúc lớn nhất các lực lượng toàn cầu của Mỹ từ năm 1945”. Và nói thêm: “Thời chiến tranh lạnh chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết ở đâu nguy cơ và chiến tranh có thể xảy ra, nên có thể triển khai đúng chỗ.

Hiện nay chúng ta hành động với nguyên tắc hoàn toàn khác. Chúng ta cần khả năng tiến hành một loạt các chiến dịch, từ chiến đấu đến gìn giữ hoà bình, ở bất cứ nơi nào trên thế giới một cách nhanh chóng”. Nghe ra có vẻ hợp lý, nhưng điều đó sẽ tạo ra một “bãi mìn” ngoại giao mà các nhà quân sự của Donald Rumsfeld đã đánh giá thấp. Để mở rộng quân đội đến những khu vực mới, Bộ ngoại giao và Bộ quốc phòng phải thương lượng hết sức khó khăn với những quốc gia chủ nhà, với biết bao nhiêu hiệp định, đạo luật phải vượt qua. Ngoài ra còn phải kể đến những quy định về bảo vệ môi trường đối với các căn cứ quân sự của Mỹ.

Nguồn tổng hợp
 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *